TÓM TẮT NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT THÁNG 7/2026
CÁC NỘI DUNG SAU
- Luật số 131/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
- Luật số 19/2023/QH15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 20 tháng 06 năm 2023.
- Luật số 122/2025/QH15 Luật Thương mại điện tử ngày 10 tháng 12 năm 2025.
TÓM TẮT
1. Luật số 131/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội đã thông qua Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Luật đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Đây là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hoạt động đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Cục Sở hữu trí tuệ tóm tắt những điểm mới của Luật liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp mà người nộp đơn cần lưu ý khi thực hiện các thủ tục có liên quan:
1. Sáng chế
- Việc kiểm soát an ninh đối với sáng chế được thực hiện đối với sáng chế thuộc danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh, được tạo ra tại Việt Nam và thuộc quyền đăng ký của cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam. Theo đó, chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế đối với các sáng chế nêu trên ở nước ngoài sau khi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép (khoản 1 Điều 89a).
- Các quy định về việc không bảo hộ sáng chế nếu tác giả không phải là con người đã được sửa đổi, hoàn thiện. Theo đó, đơn đăng ký sáng chế bị coi là không hợp lệ, bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ hiệu lực nếu có cơ sở để khẳng định rằng tác giả sáng chế không phải là con người (điểm d khoản 1 Điều 96, điểm c1 khoản 2 Điều 109, điểm e khoản 1 Điều 117).
- Thời hạn trong thủ tục xác lập quyền đối với sáng chế đã được rút ngắn đáng kể, cụ thể:
+ Thời hạn thẩm định nội dung: trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung nếu yêu cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn (điểm a khoản 2 Điều 119). Thời hạn thẩm định này được áp dụng đối với đơn đăng ký sáng chế được công bố kể từ ngày 01/4/2026.
+ Thời hạn phản đối: trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố hoặc 03 tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được thẩm định nội dung nhanh (điểm a khoản 1 Điều 112a). Thời hạn phản đối này được áp dụng đối với đơn đăng ký sáng chế được công bố kể từ ngày 01/4/2026.
+ Đặc biệt, người nộp đơn có thể yêu cầu thẩm định nội dung nhanh (thẩm định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày công bố đơn) đối với đơn đăng ký sáng chế trong một số trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 14a Nghị định số 100/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, thời hạn công bố đơn đăng ký sáng chế được cũng được rút ngắn xuống còn 01 tháng kể từ ngày người nộp đơn có yêu cầu công bố sớm hoặc kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ, tùy theo thời điểm nào muộn hơn đối với trường hợp người nộp đơn có yêu cầu công bố sớm (khoản 2 Điều 110).
Tuy nhiên, người nộp đơn cũng cần lưu ý thời hạn dành cho người nộp đơn nộp yêu cầu thẩm định nội dung đã được rút ngắn từ 42 tháng xuống còn 36 tháng kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc kể từ ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên (Điều 113). Quy định này được áp dụng đối với các đơn đăng ký sáng chế được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ từ ngày 01/4/2026.
2. Nhãn hiệu
- Người nộp đơn đăng ký đăng ký nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể đối với dấu hiệu liên quan đến dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia lưu ý: từ ngày 01/4/2026, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa, dịch vụ bị coi là không có khả năng phân biệt, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn hoặc dấu hiệu đó là yếu tố cấu thành của dấu hiệu có khả năng phân biệt được đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận (điểm đ1 khoản 2 Điều 74).
- Thời hạn xử lý đơn đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu đã được rút ngắn đáng kể và được áp dụng ngay đối với đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố kể từ ngày 01/4/2026, cụ thể:
+ Thời hạn thẩm định nội dung: trong thời hạn 05 tháng kể từ ngày công bố đơn đăng ký nhãn hiệu (điểm b khoản 2 Điều 119). + Thời hạn phản đối: trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố (điểm b khoản 1 Điều 112a).
Ngoài ra, thời hạn thực hiện việc công bố đơn đăng ký nhãn hiệu cũng được rút ngắn xuống còn 01 tháng kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ (khoản 3 Điều 110).
- Đặc biệt, người nộp đơn có thể yêu cầu thẩm định nội dung nhanh (trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày công bố đơn) đối với đơn đăng ký nhãn hiệu trong một số trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 14a Nghị định số 100/2026/NĐ-CP.
3. Kiểu dáng công nghiệp
- Chính sách về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp có nhiều thay đổi lớn, nổi bật phải kể đến việc quy định về đối tượng được bảo hộ làm kiểu dáng công nghiệp được mở rộng cho kiểu dáng của phần không tách rời được của sản phẩm (kiểu dáng riêng phần) và kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm phi vật lý (khoản 13 Điều 4).
- Theo quy định của Luật số 131/2025/QH15, người nộp đơn được hưởng nhiều ngoại lệ về tính mới trong bảo hộ kiểu dáng công nghiệp hơn, cụ thể các trường hợp bộc lộ sau đây không làm mất tính mới của kiểu dáng công nghiệp:
+ Kiểu dáng công nghiệp do người có quyền đăng ký hoặc người có được thông tin về kiểu dáng công nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai (khoản 4 Điều 65); và
+ Kiểu dáng công nghiệp được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố nếu việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp (khoản 5 Điều 65).
- Các quy định về việc không bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nếu tác giả không phải là con người đã được sửa đổi, hoàn thiện. Theo đó, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp bị coi là không hợp lệ, bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ hiệu lực nếu có cơ sở để khẳng định rằng tác giả kiểu dáng công nghiệp không phải là con người (điểm d khoản 1 Điều 96, điểm c1 khoản 2 Điều 109, điểm e khoản 1 Điều 117).
- Thời hạn xử lý đơn đăng ký xác lập quyền đối với kiểu dáng công nghiệp đã được rút ngắn và được áp dụng ngay đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố kể từ ngày 01/4/2026, cụ thể:
+ Thời hạn thẩm định nội dung: trong thời hạn 05 tháng kể từ ngày công bố đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 119).
+ Thời hạn phản đối: trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố (điểm b khoản 1 Điều 112a).
Ngoài ra, thời hạn thực hiện việc công bố đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp cũng được rút ngắn xuống còn 01 tháng kể từ ngày được coi là hợp lệ (khoản 3 Điều 110).
4. Chỉ dẫn địa lý
- Thời hạn xử lý đơn đăng ký xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý đã được rút ngắn, cụ thể:
+ Thời hạn thẩm định nội dung: trong thời hạn 05 tháng kể từ ngày công bố đơn (điểm b khoản 2 Điều 119). Thời hạn thẩm định này được áp dụng đối với đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố kể từ ngày 01/4/2026.
+ Thời hạn công bố đơn: trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được coi là hợp lệ (khoản 3 Điều 110).
5. Về uỷ quyền đại diện trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và thủ tục khiếu nại
Đối với các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, thủ tục khiếu nại thực hiện từ ngày 01/4/2026 mà việc nộp đơn cho các thủ tục đó thông qua đại diện hợp pháp theo quy định tại Điều 89 và 119a của Luật Sở hữu trí tuệ, người nộp đơn cần lưu ý các quy định sau đây liên quan đến văn bản ủy quyền:
- Trường hợp văn bản uỷ quyền không có thời hạn uỷ quyền thì thời hạn uỷ quyền được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền đơn phương chấm dứt việc uỷ quyền thì phải có văn bản tuyên bố chấm dứt việc uỷ quyền.
Người nộp đơn có thể tìm hiểu nội dung hướng dẫn cụ thể việc ủy quyền trong thực hiện thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 8 của Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN.
6. Về kết quả thẩm định hình thức đơn
Từ ngày 01/4/2026, sau khi kết thúc giai đoạn thẩm định hình thức, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định từ chối đối với các đơn không hợp lệ, đơn được xác định là hợp lệ sẽ được chuyển công bố (Cục Sở hữu trí tuệ không ra quyết định chấp nhận đơn hợp lệ). Danh sách các đơn được chuyển công bố trong đó nêu cụ thể ngày đơn được chuyển công bố sẽ được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Cục Sở hữu trí tuệ.
2. Luật số 19/2023/QH15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 20 tháng 06 năm 2023.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, việc sử dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong giao kết với người tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến. Điều này không chỉ đúng với thời kỳ xuất hiện các hoạt động sản xuất hàng loạt từ thế kỷ 19 mà lại càng đúng trong bối cảnh phát triển kinh tế số hiện nay.
Trong loại hình giao dịch này, bên cạnh những ích lợi không thể phủ nhận về sự tiện lợi và tiết kiệm nguồn lực cho nền kinh tế, luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với người tiêu dùng. Đứng trước vấn đề này, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) năm 2010 đã lần đầu tiên quy định về chế định kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng. Sau hơn 12 năm thực thi, kế thừa và phát huy các giá trị tích cực mà Luật BVQLNTD 2010 mang lại, Luật BVQLNTD 2023 ra đời với những điểm mới nổi bật trong kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định này trong tương lai, điển hình như sau:
1. Khái niệm hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Luật BVQLNTD 2023 đã bỏ hai khái niệm hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung để áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
2. Phương thức kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
2.1. Phương thức hành chính
Kế thừa các giá trị tích cực của Luật BVQLNTD 2010, Luật BVQLNTD 2023 về cơ bản giữ nguyên cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm theo phương thức hành chính để kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Tuy nhiên, có một số điểm được sửa đổi, bổ sung trong Luật 2023 như sau:
- Bổ sung tiêu chí xác định Danh mục sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Khoản 1 Điều 19 Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.
Tuy nhiên, Luật 2010 không quy định tiêu chí để xác định tính “thiết yếu” của hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục phải đăng ký, dẫn tới việc có các quan điểm khác nhau về cơ sở ban hành Danh mục này. Khắc phục vấn đề này trong Luật cũ, khoản 1 Điều 28 Luật BVQLNTD 2023 đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định phạm vi áp dụng phương thức tiền kiểm tại, cụ thể:
“Tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có số lượng lớn người tiêu dùng mua, sử dụng thường xuyên, liên tục, có tác động trực tiếp, lâu dài đến người tiêu dùng phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước khi sử dụng để giao kết với người tiêu dùng”.
- Bổ sung nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung:
Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, từ các dịch vụ gắn liền với sinh hoạt của người dân như điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, thuê bao điện thoại, truy nhập internet, truyền hình trả tiền… đến các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, bảo hiểm, tài chính… Vì vậy, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng không chỉ được điều chỉnh bởi Luật BVQLNTD và thuộc thẩm quyền, chức năng quản lý của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng các cấp mà còn được điều chỉnh trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Kinh doanh Bảo hiểm, Luật Viễn thông, Luật Nhà ở… và liên quan đến thẩm quyền, chức năng quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành như Bộ Tài chính, Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Xây dựng…
Theo đó, Luật BVQLNTD 2023 đã bổ sung nội dung mới về nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại khoản 4 Điều 28 như sau: “Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định tại Điều này.”
2.2. Phương thức tư pháp
Luật BVQLNTD 2023 đã thay thế thủ tục đơn giản trong Luật BVQLNTD 2010 thành thủ tục rút gọn để tương thích với Bộ luật Tố tụng Dân sự, đồng thời quy định điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 như sau:
"2. Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng thì được giải quyết theo thủ tục rút gọn mà không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
3. Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật Tố tụng dân sự.”
Như vậy, các vụ án dân sự có giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng sẽ được giải quyết theo thủ tục rút gọn mà không phải đáp ứng thêm các điều kiện khác.
2.3. Phương thức kiểm soát thông qua các thiết chế xã hội
Luật BVQLNTD 2023 đã sửa đổi, bổ sung các quy định mới sau liên quan đến việc phương thức kiểm soát thông qua các thiết chế xã hội:
Thứ nhất, bổ sung các quy định mới về án phí đối với vụ án dân sự do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện:
- Đối với tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đại diện cho người tiêu dùng theo ủy quyền khởi kiện: được miễn nộp tiền tạm ứng án phí (khoản 2 Điều 71 Luật BVQLNTD 2023);
- Đối với tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện vì lợi ích công cộng: được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và miễn án phí (khoản 3 Điều 71 Luật BVQLNTD 2023).
Thứ hai, bổ sung cơ chế giải quyết tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện:
Điều 46 Luật BVQLNTD 2010 chỉ quy định tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án. Luật BVQLNTD 2023 đã bổ sung thêm nguyên tắc xử lý trong trường hợp không xác định được đối tượng thụ hưởng, cụ thể:
"Trong trường hợp không xác định được đối tượng thụ hưởng, tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện được sử dụng để phục vụ cho các hoạt động chung vì quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Chính phủ" (khoản 2 Điều 73 Luật BVQLNTD 2023).
Tùy theo quy định của Chính phủ, các khoản bồi thường thiệt hại trong trường hợp này có thể sẽ là một trong các nguồn hỗ trợ hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Thứ ba, sửa đổi quy định về công khai thông tin vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Luật BVQLNTD 2010 quy định tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có trách nhiệm thông báo công khai bằng hình thức phù hợp về việc khởi kiện và chịu trách nhiệm về thông tin do mình công bố, bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (khoản 1 Điều 44 Luật BVQLNTD 2010); yêu cầu cụ thể về nội dung thông báo (khoản 2 Điều 44 Luật BVQLNTD 2010) nhưng không quy định cụ thể về các hình thức công khai, thời hạn phải công khai và thời gian công khai.
Khác với Luật BVQLNTD 2010, Điều 72 Luật BVQLNTD 2023 quy định:
- Đối tượng có trách nhiệm công khai: tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng, các trường hợp khác không có trách nhiệm công khai.
- Nội dung công khai: công khai thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc khởi kiện, không có trách nhiệm công khai về việc khởi kiện.
- Thời hạn phải công khai: trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thụ lý.
- Hình thức công khai: niêm yết tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử, phần mềm ứng dụng (nếu có) của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Thời gian công khai: tối thiểu 15 ngày kể từ ngày niêm yết, đăng tải thông tin.
Nội dung sửa đổi trong Luật BVQLNTD 2023 thể hiện được ý nghĩa cốt lõi của việc công khai công khai thông tin vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội khởi kiện là để người tiêu dùng có liên quan trong các vụ án về lợi ích công cộng được biết và có thể cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ hoặc tham gia vào quá trình khởi kiện, đồng thời tránh việc các vụ án dân sự riêng lẻ có thể bị lợi dụng/ biến tướng/ vô ý gây ra các hậu quả không mong muốn trong việc cản trở hoạt động kinh doanh bình thường và/ hoặc giảm uy tín của tổ chức, cá nhân kinh doanh trên thị trường.
3. Về phạm vi kiểm soát
3.1. Kiểm soát về hình thức
a) Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp điều khoản hợp đồng theo mẫu, điều khoản giao dịch chung cho người tiêu dùng
Luật BVQLNTD 2023 đã sửa đổi, bổ sung các quy định mới như sau:
- Về phạm vi điều chỉnh: nghĩa vụ công khai không chỉ áp dụng đối với điều kiện giao dịch chung (khoản 1 Điều 27 Luật BVQLNTD 2023) như trong Luật BVQLNTD 2010 mà áp dụng cả đối với hợp đồng theo mẫu (khoản 3 Điều 26 Luật BVQLNTD 2023). Điểm mới này trong Luật BVQLNTD 2023 tương thích với quy định tại Điều 405 và 406 BLDS 2015.
- Về vị trí công khai: cả hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đều phải niêm yết ở vị trí dễ nhìn thấy tại trụ sở, địa điểm kinh doanh và đăng tải trên trang thông tin điện tử, phần mềm ứng dụng (nếu có) để người tiêu dùng biết (khoản 3 Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Luật BVQLNTD 2023).
- Về thời điểm công khai: hợp đồng theo mẫu phải được công khai trước khi người tiêu dùng giao kết hợp đồng hoặc thực hiện hoạt động đặt cọc, thanh toán trước khi hợp đồng được giao kết (khoản 3 Điều 26 Luật BVQLNTD 2023).
b) Yêu cầu về tính minh bạch của điều khoản mẫu
Khoản 2 Điều 14 Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng là tiếng Việt, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Luật BVQLNTD 2010 chỉ quy định ngôn ngữ đối với hợp đồng giao kết với người tiêu dùng (không quy định đối với điều kiện giao dịch chung), không quy định cụ thể các ngôn ngữ khác các bên được quyền thỏa thuận ngoài tiếng Việt và nguyên tắc xử lý trong trường hợp có sự khác biệt giữa các bản dùng ngôn ngữ khác nhau.
Khoản 2 Điều 23 Luật BVQLNTD 2023 quy định: “Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung là tiếng Việt. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng thêm tiếng dân tộc khác của Việt Nam hoặc tiếng nước ngoài. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa bản tiếng Việt với bản tiếng dân tộc khác của Việt Nam hoặc bản tiếng nước ngoài, bản có lợi hơn cho người tiêu dùng được ưu tiên áp dụng”.
Như vậy, Luật BVQLNTD 2023 có các điểm mới so với Luật BVQLNTD 2010 như sau:
- Về phạm vi điều chỉnh: các quy định về ngôn ngữ trong Luật BVQLNTD 2023 được áp dụng đối với cả ba loại là hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
- Về loại ngôn ngữ được thỏa thuận thêm: Luật 2023 bổ sung cụ thể các ngôn ngữ có thể thỏa thuận sử dụng thêm là tiếng dân tộc khác của Việt Nam hoặc tiếng nước ngoài.
- Về nguyên tắc xử lý trong trường hợp các bản này có sự khác biệt: Luật BVQLNTD 2023 bổ sung nguyên tắc áp dụng bản có lợi hơn cho người tiêu dùng.
c) Nguyên tắc giải thích hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Trong khi Luật BVQLNTD 2010 chỉ áp dụng nguyên tắc giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng đối với hợp đồng thì Luật BVQLNTD 2023 quy định nguyên tắc này đối với cả hợp đồng và điều kiện giao dịch chung. Cụ thể, Điều 24 Luật BVQLNTD 2023 quy định: “Trong trường hợp hiểu khác nhau về nội dung hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì việc giải thích được thực hiện theo hướng có lợi cho người tiêu dùng”.
3.2. Kiểm soát về nội dung
Kiểm soát về nội dung là phạm vi sửa đổi trọng tâm của Luật BVQLNTD 2023 về kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với 04 điểm mới nổi bật sau:
Thứ nhất, bổ sung quy định về các nội dung cơ bản bắt buộc phải có trong hợp đồng theo mẫu tại khoản 3 Điều 23 Luật BVQLNTD. Đồng thời, khoản 4 Điều 23 Luật BVQLNTD 2023 quy định "ngoài các nội dung cơ bản quy định tại khoản 3 Điều này, hợp đồng theo mẫu phải tuân thủ quy định của pháp luật khác có liên quan" nhằm đảm bảo tính tương thích của hệ thống pháp luật.
Thứ hai, sửa đổi cách dùng thuật ngữ từ điều khoản "không có hiệu lực" (Điều 16 Luật BVQLNTD 2010) thành điều khoản "không được phép quy định” (Điều 25 Luật BVQLNTD 2010), đồng thời quy định hành vi "quy định điều khoản không được phép tại Điều 25 của Luật này trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung" là một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Điều 10 Luật BVQLNTD 2023. Bằng cách sửa đổi này, Điều 25 Luật BVQLNTD 2023 trở thành cơ sở để xác định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo quy định tại Điều 123 BLDS 2015.
Thứ ba, hoàn thiện danh mục điều khoản không có hiệu lực tại Điều 16 để đảm bảo tính thực tiễn hơn, cụ thể: Điều 25 Luật BVQLNTD 2023 đã (i) sửa đổi một số trường hợp không có hiệu lực theo khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD 2010 (ví dụ các điểm c, đ, i...) và (ii) bổ sung thêm một số trường hợp mới (tại các khoản từ 12 đến 15) để tăng tính linh hoạt, đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh, lĩnh vực kinh doanh đặc thù của từng loại thị trường.
Thứ tư, bổ sung quy định chung mang tính khái quát để định hình chuẩn mực kiểm soát tính bất công bằng của các điều khoản trong hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại khoản 15 Điều 25 Luật BVQLNTD 2023, cụ thể:
"Trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, tổ chức, cá nhân kinh doanh không được quy định các điều khoản sau đây:…
15. Quy định trái với nguyên tắc thiện chí theo quy định của pháp luật về dân sự, dẫn đến mất cân bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên theo hướng bất lợi cho người tiêu dùng”.
3. Luật số 122/2025/QH15 Luật Thương mại điện tử ngày 10 tháng 12 năm 2025.
Trong bối cảnh thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này cũng liên tục được cập nhật nhằm bắt kịp xu hướng số hóa và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Luật Thương mại điện tử 2025 được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi tích cực, tác động trực tiếp và đáng kể đến doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh online, người livestream bán hàng cũng như các nền tảng trung gian. Do đó, việc nắm bắt kịp thời các quy định mới không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn tối ưu hóa hoạt động kinh doanh trong môi trường số đầy cạnh tranh.
1. Định nghĩa hoạt động thương mại điện tử và phân loại các nền tảng thương mại điện tử
Theo Điều 3 Luật Thương mại điện tử 2025, hoạt động thương mại điện tử được định nghĩa là hoạt động thương mại được tiến hành một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử như: mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin. (khoản 1 Điều 3 Luật giao dịch điện tử 2023)
Để làm rõ, luật cũng quy định và giải thích khái niệm của các loại nền tảng thương mại điện tử cụ thể. Đây là nền tảng số được thiết lập nhằm thực hiện hoạt động thương mại điện tử, bao gồm các loại hình cụ thể sau:
+ Nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp: Là nền tảng thương mại điện tử do tổ chức, cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. (Khoản 3 Điều 3)
+ Nền tảng thương mại điện tử trung gian: Là nền tảng thương mại điện tử cho phép tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản để thực hiện hoạt động giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền tảng đó. (Khoản 4 Điều 3)
+ Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử: Là mạng xã hội có tích hợp ít nhất một trong các chức năng liên lạc trực tuyến, đặt hàng trực tuyến, livestream bán hàng để hỗ trợ giao kết hợp đồng và thực hiện hoạt động thương mại điện tử. (Khoản 5 Điều 3)
+ Nền tảng thương mại điện tử tích hợp: Là nền tảng thương mại điện tử cho phép tích hợp các nền tảng thương mại điện tử khác trên chính nền tảng đó, không bao gồm nền tảng chỉ cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử, liên lạc trực tuyến cho chính nền tảng thương mại điện tử tích hợp. (Khoản 6 Điều 3)
Việc Luật Thương mại điện tử 2025 quy định làm rõ các khái niệm liên quan, đặc biệt là phân loại cụ thể các nền tảng thương mại điện tử, cho thấy bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế số. Các quy định này không chỉ giúp cơ quan quản lý xác định rõ phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm của từng loại hình nền tảng, mà còn tạo sự minh bạch, thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trên môi trường điện tử nhận diện đúng mô hình hoạt động của mình, từ đó chủ động tuân thủ quy định, hạn chế rủi ro pháp lý và tận dụng hiệu quả các cơ hội trong bối cảnh thương mại điện tử ngày càng phát triển mạnh mẽ.
2. Định danh (xác thực điện tử danh tính) cá nhân trước khi tham gia hoạt động thương mại điện tử
Xác thực điện tử danh tính trước khi hoạt động là một trong những điểm cần lưu ý của Luật Thương mại điện tử 2025, thể hiện rõ xu hướng tăng cường quản lý đối với các hoạt động kinh doanh trên môi trường số. Theo đó, kể từ ngày 01/7/2026, các chủ thể sau đây phải hoàn tất việc xác thực danh tính cá nhân trước khi thực hiện hoạt động thương mại điện tử:
+ Người bán hàng trên nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử. (Điều 21)
+ Người livestream bán hàng: Là người trực tiếp xuất hiện trên nền tảng thương mại điện tử để thực hiện livestream bán hàng. (Điều 22, 24)
+ Người tiếp thị liên kết: Là người giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên nền tảng số thông qua đường dẫn truy cập, mã giới thiệu hoặc phương thức tương tự do tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử tạo ra. (Điều 25, 26)
Việc xác thực điện tử danh tính theo quy định của Luật Thương mại điện tử và pháp luật về định danh và xác thực điện tử. Trường hợp cá nhân là người nước ngoài thì xác thực danh tính thông qua các giấy tờ hợp pháp.
Thông qua cơ chế xác thực danh tính này, cơ quan quản lý có thể dễ dàng truy vết, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm, đặc biệt trong bối cảnh các hoạt động như livestream bán hàng hay tiếp thị liên kết ngày càng phát triển nhanh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Từ đó, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia thương mại điện tử, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hạn chế các hành vi gian lận, lừa đảo trên môi trường số. Đây cũng là bước đi quan trọng trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh thương mại điện tử an toàn, lành mạnh và công bằng, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại trong nền kinh tế số.
3. Tăng cường quản lý đối với nền tảng thương mại điện tử nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam
Nền tảng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam là nền tảng thương mại điện tử nước ngoài có chủ quản là tổ chức nước ngoài hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật nước ngoài và đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
+ Có cơ chế cho phép lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt;
+ Sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”;
+ Đạt ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam, không bao gồm nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp không có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Ngoài ra, so với các nền tảng thương mại điện tử trong nước, Luật Thương mại điện tử còn ràng buộc thêm đối với nền tảng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam như sau:
+ Đối với nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến: Chủ quản phải chỉ định một pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền trước khi nền tảng có lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" hoặc sau khi đạt ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
+ Đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian không có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến: Chủ quản phải chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam trước khi nền tảng có lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" và đáp ứng điều kiện về quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử.
+ Đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến, nền tảng thương mại điện tử tích hợp: Chủ quản phải thành lập pháp nhân tại Việt Nam trước khi nền tảng có lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" hoặc sau khi đạt ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có cam kết về việc không được yêu cầu thành lập pháp nhân, chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến, nền tảng thương mại điện tử tích hợp thực hiện các quy định sau đây:
+ Chỉ định một pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền;
+ Thực hiện ký quỹ tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam để thực hiện bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước;
+ Đáp ứng các điều kiện về quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử.
Các quy định này giúp hạn chế tình trạng “kinh doanh xuyên biên giới nhưng né tránh trách nhiệm”, đồng thời thiết lập một sân chơi công bằng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực thương mại điện tử.
4. Xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử
Về chế tài đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử mà có hành vi vi phạm quy định của Luật Thương mại điện tử thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo các hình thức sau đây:
+ Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ Chặn truy cập, tạm ngừng chức năng giao dịch của nền tảng thương mại điện tử; gỡ bỏ nội dung, tạm ngừng, chấm dứt tài khoản vi phạm trên nền tảng thương mại điện tử; rút khỏi danh sách đã công bố về nền tảng thương mại điện tử đã được xác nhận thông báo, đăng ký; rút khỏi danh sách đã công bố về tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại đã được cấp phép;
+ Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, khôi phục quyền lợi của các bên liên quan;
+ Bồi thường trong trường hợp gây thiệt hại cho các bên tham gia thương mại điện tử theo quy định của pháp luật;
+ Trường hợp hoạt động thương mại điện tử có dấu hiệu của tội phạm thì bị xem xét xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.
Luật Thương mại điện tử là một trong những đạo luật quan trọng mới được ban hành, được dự kiến là sẽ có tác động mạnh mẽ đến bối cảnh kinh doanh trong thời đại công nghệ số hiện nay. Trên đây là 04 điểm quan trọng mà các tổ chức, cá nhân cần đặc biệt lưu ý khi tham gia hoạt động thương mại điện tử (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026). Việc nắm rõ và tuân thủ các quy định này không chỉ giúp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn tạo nền tảng để hoạt động kinh doanh phát triển bền vững, phù hợp với xu hướng quản lý ngày càng chặt chẽ trong lĩnh vực thương mại điện tử.